FTTH chưa thể đến với hộ gia đình


ICTnews – Mặc dù có tốc độ kết cao, nhiều dịch vụ gia tăng nhưng chi phí ban đầu và giá cước sử dụng dịch vụ của FTTH quá cao đang cản trở sự phổ cập của dịch vụ này.

Tháng 8/2006, FPT Telecom trở thành đơn vị đầu tiên cung cấp loại hình dịch vụ FTTH. Khoảng 2 năm sau, FPT có gần 2.000 thuê bao. Cho đến nay, Việt Nam đã có 4 nhà cung cấp dịch vụ FTTH, gồm Viettel, VNPT, SPT và FPT Telecom. Ông Đặng Hồng Thái, phụ trách dịch vụ FTTH của Viettel cho biết, Viettel bắt đầu tham gia thị trường vào cuối năm ngoái. Hiện tại Viettel đã cung cấp dịch vụ tại 63 tỉnh, thành phố. Tính đến đầu tháng 9/2009, Viettel có khoảng 1.500 khách hàng. Trao đổi về tính ưu việt của FTTH, hầu hết các nhà cung cấp đều cho biết FTTH có ưu điểm lớn hơn rất nhiều so với ADSL. Theo một đại diện của VNPT, đây là “dịch vụ mới mang tính đột phá cao”. Khác với công nghệ truy cập Internet ADSL, công nghệ FTTH sử dụng đường truyền dẫn hoàn toàn bằng cáp quang. Tốc độ truy cập Internet của FTTH lên đến 10 Gigabit/giây, nhanh gấp 200 lần so với ADSL. Ngoài ra, tốc độ truyền dẫn của công nghệ FTTH cân bằng, cho phép tốc độ tải lên (upload) và tốc độ tải xuống (download) ngang nhau, trong khi đó đối với ADSL, tốc độ tải lên luôn luôn thấp hơn tốc độ tải xuống. Chất lượng tín hiệu của FTTH ổn định, không bị suy hao bởi nhiễu điện từ, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, chiều dài cáp… Công nghệ FTTH đặc biệt hiệu quả với các dịch vụ Hosting Server riêng, VPN (mạng riêng ảo), truyền dữ liệu, game online, IPTV (truyền hình tương tác), VoD (xem phim theo yêu cầu), Video Conferrence (hội nghị truyền hình), IP Camera,…. Tại Việt Nam, dịch vụ FTTH vẫn còn hạn chế do nhiều nguyên nhân. Về phía người dùng, mức cước phí sử dụng dịch vụ FTTH cao hơn rất nhiều so với ADSL. Để sử dụng, mức phí lắp đặt ban đầu giao động từ 2 - 8 triệu đồng, tùy từng nhà cung cấp dịch vụ và đợt khuyến mãi. Chẳng hạn, FPT hiện đang có chương trình khuyến mãi dành cho các khách hàng phía Nam, trong đó giảm 5 – 6 triệu đồng phí hòa mạng, giảm 1-3 triệu đồng phí thuê bao hàng tháng, trong vòng 18 tháng. Chương trình này được áp dụng từ ngày 1/9 đến hết ngày 30/9/2009. Dịch vụ FTTH có các gói thuê bao trọn gói hàng tháng, chứ không tính phí theo dung lượng truy cập như ADSL. Mức phí thấp nhất là 2 triệu đồng, cao hơn có thể trên 10 triệu, tùy gói cước và tốc độ truy cập. Ngoài ra, các khoản phí phát sinh của dịch vụ FTTH cũng khá cao như: phí chuyển đổi gói cước, khôi phục lại dịch vụ, chuyển địa điểm lắp đặt, thậm chí cả phí chuyển đổi từ gói cước tốc độ cao xuống tốc độ thấp (nếu chuyển từ tốc độ thấp lên tốc độ cao có thể được miễn phí). Nếu so với dịch vụ ADSL, các khoản phí của FTTH cao hơn rất nhiều. Chính vì vậy, đối tượng khách hàng của FTTH còn hạn chế, chủ yếu là doanh nghiệp, tổ chức, một số là đại lý Internet, game online. Đại diện Viettel Telecom cho biết, cho đến thời điểm này, do chi phí đầu tư cho dịch vụ này quá cao nên ban đầu khách hàng chủ yếu của Viettel là doanh nghiệp. Trên thực tế để đưa dịch vụ này đến hộ gia đình là vô cùng khó khăn do rào cản về giá dịch vụ. Theo ông Nguyễn Thái Hoàng, chuyên gia phân tích về viễn thông, đặc điểm về hạ tầng của nước ta như đường xá, cột cáp chưa ổn định là những rủi ro lớn cho các công ty khi triển khai mạng cáp quang này. Chính vì thế, FTTH đến nay vẫn là một dịch vụ khá mới mẻ tại thị trường Việt Nam. “Hiện dịch vụ này đang được các công ty viễn thông cung cấp một cách có chọn lọc cho các đối tượng khách hàng, chủ yếu là doanh nghiệp và tổ chức”, vị chuyên gia này nói Nhiều ý kiến cho rằng FTTH sẽ dần thay thế ADSL trong tương lai gần vì những ưu thế vượt trội của nó, một khi băng thông ADSL không đủ sức cung cấp đồng thời các dịch vụ trực tuyến trong cùng một thời điểm. Tuy nhiên, nhận xét về dịch vụ FTTH tại Việt Nam, ông Hoàng cho rằng, với những rào cản về chi phí đầu tư và cước phí sử dụng, dịch vụ này cần có thời gian để thâm nhập thị trường. Dịch vụ này có ưu thế hỗ trợ băng thông cực lớn theo yêu cầu của khách hàng, do đó sẽ là một xu hướng tất yếu khi các ứng dụng trên Internet ngày càng nhiều. Vì vậy có thể mong đợi một tốc độ phát triển 2 con số của dịch vụ này tại Việt Nam trong vòng 3 năm tới.
FTTH là một công nghệ trong nhóm công nghệ FTTx (Fiber-to-the-x). FTTx (Fiber To The x) là 1 thuật ngữ nói chung chỉ một kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông. Ngoài FTTH còn có các công nghệ FTTN (Fiber To The Node), FTTC (Fiber To The Curb), FTTB (Fiber To The Building). FTTH là cấu trúc mạng thịnh hành nhất trong số các FTTx, chiếm hơn 61% thuê bao cáp quang thế giới.
FTTH là một công nghệ trong nhóm công nghệ FTTx (Fiber-to-the-x). FTTx (Fiber To The x) là 1 thuật ngữ nói chung chỉ một kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông. Ngoài FTTH còn có các công nghệ FTTN (Fiber To The Node), FTTC (Fiber To The Curb), FTTB (Fiber To The Building). FTTH là cấu trúc mạng thịnh hành nhất trong số các FTTx, chiếm hơn 61% thuê bao cáp quang thế giới.
FTTH là một công nghệ trong nhóm công nghệ FTTx (Fiber-to-the-x). FTTx (Fiber To The x) là 1 thuật ngữ nói chung chỉ một kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông. Ngoài FTTH còn có các công nghệ FTTN (Fiber To The Node), FTTC (Fiber To The Curb), FTTB (Fiber To The Building). FTTH là cấu trúc mạng thịnh hành nhất trong số các FTTx, chiếm hơn 61% thuê bao cáp quang thế giới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét